Tin tức/Sự kiện» Uncategorized» Tranh chấp chủ quyền Biển đảo giữa Việt Nam với các Quốc gia trong Biển Đông

Tranh chấp chủ quyền Biển đảo giữa Việt Nam với các Quốc gia trong Biển Đông

03/12/2019
Tranh chấp chủ quyền Biển đảo giữa Việt Nam với các Quốc gia trong Biển Đông

THỰC TRẠNG TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA TRONG BIỂN ĐÔNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

            Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Biển không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, cửa ngõ mở rộng quan hệ giao thương với quốc tế mà còn đóng vai trò quan trọng đảm bảo an ninh, quốc phòng; đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc không chỉ thể hiện tư duy của Đảng ta trong các nghị quyết đại hội mà còn trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ này, chúng ta phải quán triệt, thấu suốt quan điểm của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định và giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.

     1. QUÁ TRÌNH PHÂN ĐỊNH BIỂN, ĐẢO GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA HỮU QUAN TRONG BIỂN ĐÔNG

            1.1 Phân định phần biển giữa Việt Nam với các quốc gia hữu quan trong khu vực biển đông

            Theo các định chế đã được ghi nhận tại Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, Việt Nam có toàn quyền xác định các vùng biển và thềm lục địa theo nội dung của Công ước. Ngoài ra, Việt Nam có nghĩa vụ tiến hành phân định các vùng biển và thềm lục địa ở những khu vực chồng lấn với các nước làng giềng trong khu vực Biển Đông. Việt Nam đã và đang tiến hành đàm phán giải quyết các vấn đề phân định các vùng biển và thềm lục địa với các nước trong khu vực. Đến nay Việt Nam đã ký kết: Hiệp định về vùng nước lịch sử với Campuchia ngày 07/07/1982; Bản thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác vùng chồng lấn thềm lục địa với Malaysia ngày 05/06/1992; Phân định vuàng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan ngày 09/08/1997; Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc ngày 25/12/2000; Phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vụng Bắc Bộ với Trung Quốc ngày 15/06/2004; Hiệp định thỏa thuận đường ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam với Indonesia ngày 26/06/2003.

            1.2. Đối với quần đảo Hoàng Sa

            Trung Quốc đã tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XX (năm 1909), mở đầu là sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm. Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ và trong khi chính quyền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa, CHND Trung Hoa đã đưa quân ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, lợi dụng quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trên đà sụp đổ, quân đội viễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, CHND Trung Hoa lại huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ.

            1.3. Đối với quần đảo Trường Sa

            – Trung Quốc: Đã tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa từ những năm 30 của thế kỷ trước, mở đầu bằng một công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp khẳng định "các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc". Như vậy tính đến nay tổng số đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là 7 vị trí. Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm 1 bãi cạn rạn san hô là bãi Bàn Than.

            – Phi-líp-pin: Bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện Tổng thống Quirino tuyên bố rằng quần đảo Trường Sa phải thuộc về Phi-líp-pin vì nó ở gần Phi-líp-pin.Từ năm 1971 đến năm 1980, Phi-líp-pin chiếm đóng 9 đảo, đá trong quần đảo Trường Sa.

            – Mai-lai-xia: Năm 1983-1984, Mai-lai-xia cho quân chiếm đóng 3 bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân. Năm 1988, họ đóng thêm 2 bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm. Hiện nay, Ma-lai-xia đang chiếm giữ 5 đảo, đá, bãi cạn trong quần đảo Trường Sa.

            – Brunây: Tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo Trường Sa, nhưng trong thực tế Bru-nây chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào. Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa.

     2. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH PHÂN ĐỊNH BIỂN GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC QUỐC GIA HỮU QUAN TRONG KHU VỰC     

            Quá trình phân định biển giữa Việt Nam với các quốc gia hữu quan cơ bản đảm bảo được lợi ích quốc gia. Mọi biện pháp được tiến hành thông qua thương lượng, đàm phán hòa bình, đã góp phần giữ vững môi trường biển hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới, cụ thể

             2.1 Phân định biển với Trung Quốc; Chúng ta luôn luôn kiên trì bằng biện pháp pháp luật, đồng thời cũng yêu cầu Trung Quốc vận dụng những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế, nhất là những quy định của UNCLOS để vận dụng vào quá trình đàm phán phân định biển. Về thuận lợi là cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCOS, lãnh đạo cấp cao của hai nước cũng nhất trí giải quyết mọi bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, quá trình phân định biển với Trung Quốc ngoài khu vực cửa vịnh Bắc Bộ còn gặp nhiều khó khăn, do những yếu tố như quan điểm về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán còn khác xa nhau. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đang ráo riết thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông và cụ thể hóa yêu sách phi lý về đường đứt khúc 9 đoạn

            2.2. Phân định biển giữa Việt Nam và Philippines; Vẫn còn nhiều khó khăn: Thứ nhất, từ trước đến nay Việt Nam và Philippines chưa ký được hiệp định phân định biển, mới chỉ có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Thứ hai, quan điểm chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam giữa hai nước còn có sự cách biệt lớn. Thứ ba, trên thực tế Philippines đang chiếm đóng trái phép một số đảo đá của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và Philippines khẳng định có chủ quyền. Về thuận lợi, cả Việt Nam và Philippines đều là thành viên của UNCLOS, cấp cao hai nước đã nhất trí giải quyết mọi bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

            2.3 Phân định biển giữa Việt Nam và Malaysia; đã đạt được nhiều thuận lợi cơ bản, khi cả hai nước đều ký được thỏa thuận khai thác nguồn tài nguyên biển trong vùng chồng lấn trước khi hai nước bàn luận để tiến tới ký hiệp định phân định biển. Cả hai nước đều trình lên Ủy ban thềm lục địa của Liên hợp quốc về ranh giới ngoài cùng của thềm lục địa và hai nước đều là thành viên của UNCLOS. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn do quan điểm về quyền chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển chồng lấn có sự khác biệt. Khó khăn lớn nhất là do hiện nay Malaysia đang chiếm đóng trái phép một số đảo đá ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Do đó, vấn đề phân định biển giữa Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn do quan điểm chủ quyền tại quần đảo Trường Sa có sự khác biệt khá lớn.

            2.4. Phân định biển giữa Việt Nam và Indonesia; Đã đạt được kết quả khi hai nước nhất trí ký Hiệp định phân định biển. Với nội dung của hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai nước đã bổ sung vào kinh nghiệm của thế giới và khu vực về đàm phán phân định biển. Trong quá trình đàm phán có nhiều thuận lợi, do cả hai quốc gia đều là thành viên của UNCLOS; thứ hai, trên thực tế Indonesia không chiếm đóng trái phép đảo đá nào của Việt Nam tài quần đảo Trường Sa.

             2.5. Phân định biển giữa Việt Nam và Thái Lan; Là hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được trong vịnh Thái Lan. Đây cũng là hiệp định về phân định biển đầu tiên được ký kết tại khu vực Đông Nam Á sau khi UNCLOS có hiệu lực. Hiệp định này đã bổ sung kinh nghiệm trong xu thế có thể thỏa thuận về một đường biên giới biển hòa bình do việc phân định đồng thời thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế một cách công bằng dựa trên những quy định của UNCLOS và sự nỗ lực của hai bên.

            2.6. Phân định biển giữa Việt Nam và Campuchia; Mặc dù đã có kinh nghiệm khi cả hai nước đều nhất trí ký hiệp định vùng nước lịch sử chung. Tuy nhiên, để hiệp định phân định biển giữa hai quốc gia được ký kết còn phải mất một quá trình đàm phán lâu dài. Thứ nhất, do quan điểm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán giữa hai quốc gia còn có sự khác biệt. Thứ hai,hiện nay Campuchia là quốc gia trong khu vực chưa phê chuẩn UNCLOS, do đó rất khó để vận dụng các nguyên tắc của luật biển quốc tế trong quá trình đàm phán phân định biển.

    3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY    

            3.1. Đẩy mạnh tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo

            – Đây là giải pháp có vị trí quan trọng hàng đầu, bởi vì nó định hướng nhận thức, tư tưởng, trau dồi tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí, vai trò, sức mạnh của biển, ý thức trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thời gian qua, vấn đề nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo và hành động của một bộ phận nhân dân chưa thống nhất, thậm chí sai lệch, bị lợi dụng, kích động. Vì vậy, phải tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và toàn dân. Đây cũng là từng bước xây dựng thế trận lòng dân bảo vệ chủ quyền biển đảo, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân; đồng thời thông qua các cơ quan báo chí, thông tấn lớn trên thế giới đưa tin nhiều về vấn đề này khiến dư luận quốc tế hiểu hơn về cơ sở pháp lý, lịch sử, lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông từ đó nhiều chính khách, học giả trên thế giới, dư luận quốc tế đã lên tiếng đồng thuận, ủng hộ lập trường chính nghĩa, lẽ phải của Việt Nam.

            – Do vậy thời gian tới, công tác tuyên truyền về biển, đảo cần có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất từ cơ quan chức năng Trung ương. Đặc biệt, cần cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọi người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới hiểu cơ sở pháp lý, cơ sở lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo, tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển.

            – Cùng với đó cần sớm đưa các nội dung về chủ quyền biên giới và lãnh thổ, biển đảo vào trong sách giáo khoa ở các cấp phổ thông và đại học; in và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt Nam và quốc tế các bản đồ mới về đường biên giới trên bộ và các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về Biển Đông, chú trọng vào các đề tài khẳng định vững chắc chủ quyền của chúng ta, cả về mặt pháp lý, cơ sở lịch sử và truyền thống giữ biển của ông cha qua các thời kỳ.

            3.2. Kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, đấu tranh ngoại giao và pháp lý để góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên cơ sở luật pháp quốc tế

            – Là thành viên của Hiến chương Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như Tuyên bố của các bên về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế, kiên trì con đường giải quyết các vấn đề phát sinh bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Trong khi kiên trì phấn đấu tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài, chúng ta yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế

            – Chú trọng quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, đa phương với các nước đối tác, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, Cộng đồng ASEAN, các nước lớn, các nước có tiềm lực kinh tế, có nền khoa học công nghệ quốc phòng mạnh. Thực hiện phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy hợp tác là chủ yếu, không để đối đầu với các nước, nhất là nước lớn, không để bị cô lập; tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và thế giới. Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, đấu tranh thông qua các phương tiện truyền thông, mặt trận báo chí, lý luận, đa dạng hóa, coi trọng công tác thông tin bằng tiếng Trung, tiếng Anh làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ, chính xác, đầy đủ hơn về đất nước, con người Việt Nam và những bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. 

            – Tích cực, chủ động tìm kiếm, sưu tầm tài liệu, chứng cứ pháp lý, lịch sử; hoàn thiện hệ thống luật pháp về biển, đảo, nhất là sau khi có phán quyết của Tòa trong tài quốc tế (PCA), tạo điều kiện để đấu tranh pháp lý thuận lợi. Tổ chức và tham gia các cuộc hội thảo khoa học; diễn đàn, điều tra, khảo sát khoa học chung về biển, đảo với các nước trong khu vực và quốc tế… tranh thủ sự ủng hộ của dư luận, của các nhà khoa học, lịch sử, địa lý và các nước trong khu vực như Cộng đồng ASEAN, cộng đồng quốc tế để lên tiếng ủng hộ ta về tính pháp lý, lịch sử của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, chống sự áp đặt của nước lớn. 

            3.3. Tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh

            – Lực lượng vũ trang (LLVT) có vai trò to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là công cụ bạo lực của Đảng, Nhà nước để bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tư an toàn xã hội do vậy cần đặt lên hàng đầu việc xây dựng sự tinh nhuệ vững mạnh về chính trị cho LLVT. Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội, công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên. Tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Phòng không, Không quân, Pháo binh… trên biển, các hạm đội tàu ngầm và máy bay săn ngầm, dân quân tự vệ các địa phương ven biển và trên các đảo; coi trọng huấn luyện bay biển, đi biển, di chuyển lực lượng, phương tiện trong mọi điều kiện thời tiết, môi trường địch sử dụng vũ khí công nghệ cao… Tăng cường kết hợp giữa huấn luyện với rèn luyện thể lực, nâng cao sức khỏe cho bộ đội, đủ điều kiện hoạt động dài ngày trên biển. 

            – Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Củng cố tổ chức lực lượng thường trực theo hướng “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”; lực lượng dự bị động viên hùng hậu; dân quân tự vệ rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền hoạt động trên biển, có dân định cư ở ven biển và trên đảo, ở đó có dân quân tự vệ; đủ sức là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, an ninh; ứng dụng KHCN tiên tiến, xây dựng nền CNQP vững mạnh

            – Tăng cường diễn tập, tuần tra chung của LLVT trong nước và quốc tế với nhiều quy mô, hình thức khác nhau, theo hướng sát phương án, nhiệm vụ và thực tế diễn biến trên biển; phù hợp với vũ khí, trang bị hiện có và nghệ thuật quân sự Việt Nam, cũng như cam kết trong Cộng đồng ASEAN và các hiệp định mà Việt Nam đã ký. Tăng cường giao lưu, diễn tập Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng… giữa các nước trong khu vực để tăng thêm hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm, thắt chặt đoàn kết, tạo môi trường hòa bình trong khu vực. 

            3.4. Kết hợp chặt chẽ quá trình dân sự hóa trên biển với xây dựng thế trận quốc phòng-an ninh trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

            – Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là cơ sở để chúng ta khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, vừa là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng – an ninh trên biển.

Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, công tác dân sự hóa trên các vùng biển, đảo, nhất là ở những vùng biển, đảo chiến lược đã được đẩy mạnh, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để củng cố và xây dựng thế trận lòng dân trên biển. Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh. Việc quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở các khu vực ven biển, trên biển và các đảo phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của khu vực phòng thủ địa phương, phải mang tính hệ thống, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa biển, đảo với đất liền. Quá trình thiết kế, xây dựng hạ tầng cơ sở trên biển, đảo phải mang tính lưỡng dụng cao, không chỉ bền vững trước tác động của môi trường biển mà còn phải bền vững khi chuyển sang phục vụ mục đích quốc phòng-an ninh.

            – Xây dựng  lực lượng kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ việc khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân trên biển, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn trên biển; đồng thời kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn các hành động khai thác hải sản trái phép của nước ngoài trên vùng biển của Việt Nam. Các địa phương ven biển, huyện đảo phải có lực lượng dân quân tự vệ vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia.

                                                                                                                                                                                                                                                          Tin bài: ThS. Nguyễn Tự Cường – Tổ GDTC – QPAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bộ GD-ĐT (2012). Biển, đại dương và chủ quyền biển, đảo Việt Nam. NXB Vụ giáo dục quốc phòng
  2. Bộ GD-ĐT (2013). Giáo trình Giáo dục quốc phòng – An ninh, tập 1. NXB Giáo dục Việt Nam
  3. Nguyễn Hồng Thao, Đỗ Minh Thái, Nguyễn Thị Như­ Mai, Nguyễn Thị Hường (2008), Công ­ước biển 1982 và Chiến l­ược biển của Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  4. Monique Chemillier Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. tr.90

 

Chia sẻ: