Bệnh xuất huyết do virus ở cá trắm và những kinh nghiệm trong phòng bệnh này
a. Dịch tế học:
Tác nhân bệnh xuất huyết do virus ở cá trắm cỏ Virus: Reovirus có cấu trúc acid Nucleic nhân là ARN không có vỏ, hình khối 20 mặt đối xứng theo tỷ lệ 5:3:2, có 92 capsomer (Chen và Jiang, 1984; Chen và CTV 1985; Hong và CTV 1985), đường kính khoảng 60-70nm.
Bệnh ở dạng cấp tính: phát triển rất nhanh và trầm trọng, cá bị bệnh sau 3-5 ngày có thể chết, tỷ lệ chết 60-80 %, nhiều ao, lồng chết 100 %. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở cá giống dưới 0,5 kg/con, mức độ nghiêm trọng nhất khi nuôi ở mật độ dầy như cá lồng và ương cá giống.
Bệnh xuất hiện vào mùa thu và giao mùa xuân – hè, khi nhiệt độ nước từ 25 – 320 C, khi thấp dưới 230 C và cao hơn 350C bệnh rất ít phát sinh hoặc không phát bệnh. Khi môi trường ao nuôi bị ô nhiễm cũng là nguyên nhân gây bệnh cho cá trắm.
b. Triệu chứng bệnh xuất huyết do virus ở cá trắm:
Da cá màu tối xẫm, cá nổi lờ đờ trên tầng mặt. Khi có hiện tượng cá chết, mắt lồi và xuất huyết, mang nhợt nhạt, nắp mang, vây xuất huyết. Cá giống thường xuất hiện dấu hiệu sớm nhất là vây đuôi chuyển ḿàu đen, bên ngoài thân màu tối đen, hai bên cơ lưng có thể xuất hiện hai giải sọc màu trắng. Cá bệnh nặng bên ngoài thân tối và xuất huyết hơi đỏ. Cá giống trắm cỏ (4-6cm), nhìn dưới ánh sáng mạnh, có thể thấy cơ xung huyết. Xoang miệng, nắp mang, xung quanh mắt, gốc vây và phần bụng… đều biểu hiện xuất huyết. Nhãn cầu lồi ra, tơ mang màu đỏ tím hoặc xuất huyết, nếu cá bệnh xuất huyết nghiêm trọng. Có một số cá bệnh hậu môn viêm đỏ. Cá trắm cỏ mắc bệnh hai tuổi trở lên, gặp nhiều ở phần gốc tia vây và phần bụng xuất huyết là chính, đồng thời thấy triệu chứng hậu môn viêm đỏ.
c. Dấu hiệu bệnh tích bệnh xuất huyết do virus ở cá trắm:
Mang xuất huyết: Tơ mang xuất huyết th́ành màu hơi trắng và dính bùn
Bóc da cá bệnh nhìn thấy các đốm hoặc đám cơ đỏ xuất huyết, bệnh nặng, cơ toàn thân xuất huyết đỏ tươi, đây là dấu hiệu đặc trưng thường thấy của bệnh. Cơ quan nội tạng: ruột xuất huyết tương đối rõ ràng, ruột cục bộ hoặc toàn bộ xuất huyết màu đỏ thẫm, th́ành ruột còn chắc chắn, không hoại tử. Trong ruột không có thức ăn. Gan xuất huyết có đốm màu trắng. Xoang bụng xuất huyết. Cá trắm bị bệnh trên hai tuổi xuất huyết không rõ ràng, thường gặp xuất huyết đường ruột. Bệnh kết hợp với bệnh viêm ruột do vi khuẩn làm cho ruột hoại tử và chứa hơi.
.jpg)
Cá trắm cỏ giống các gốc vây xuất huyết, các tia vây rách nát và cụt dần, vẩy rụng và khô ráp.
.jpg)
Cá trắm bị bệnh, thận xuất huyết.
.jpg)
Cá trắm bị bệnh, mang và nội tạng xuất huyết
.jpg)
Cá trắm bị bệnh, xuất huyết toàn thân
Tóm lại: hệ thống cơ dưới da xuất huyết và trong xoang cơ thể, gan, thận, lá lách xuất huyết. Ruột không có thức ăn, thành ruột xuất huyết nhưng không hoại tử (thành ruột còn tương đối chắc chắn, không thối nát). Máu biến đổi, khi cá nhiễm bệnh, hồng cầu, huyết tương và urê đều giảm sau 4-5 ngày, sau 8 ngày hồng cầu, huyết tương, hemoglobin giảm tới mức thấp nhất, nhưng glucose máu không thay đổi. Một số mẫu bệnh thu ở tự nhiên, máu cũng biến đổi và còn thêm K+ trong huyết thanh tăng, Ca++ giảm. Cá bệnh tỷ lệ tế b́o Lympho giảm, tỷ lệ tế b́o bạch cầu có hạt tăng nhanh.
d. Trị bệnh: Hiện nay chưa có thuốc chữa bệnh do virus gây ra trên cá trắm, nên phòng bệnh là chính.
e. Một số kinh nghiệm trong phòng bệnh bệnh xuất huyết do virus ở cá trắm:
Thứ nhất: Về giống:
Kiểm tra con giống không mang bệnh trước khi đưa về; kiểm tra nguồn gốc giống và lựa chon giống cá trắm không mang mầm bệnh (Nên lấy giống ở các Viện thủy sản). Thả cá với mật độ vừa phải, không dày quá.
Thứ 2: Về cải tạo ao nuôi trước khi thả cá:
Phải tuân thủ quy trình các bước cải tạo ao nuôi: Tháo cạn nước → nạo vét bùn → cày xới đáy ao →bón vôi bột (7-10kg/100m2) → phơi đáy ao 7-15 ngày (đáy ao khô nứt chân chim) → Xử lý nước và cấp nước vào ao nuôi (Lưu ý: không sử dụng nguồn nước thải công nghiệp, nước thải khu dân cư, nước thải chăn nuôi…)
Thứ 3: Quản lý môi trường ao nuôi tốt:
– Khử trùng môi trường ao nuôi bằng 1 trong các loại sau:
+ Dùng thuốc tím (KMnO4) phun trực tiếp xuống nước: nồng độ thuốc sau khi phun thuốc xuống ao là 2 ppm (2g/1m3 nước)
+ Dùng TCCA thả trực tiếp thuốc xuống ao: nồng độ thuốc sau khi thuốc tan trong nước ao là 0,5 ppm (0,5g/1m3).
+ Iodin: 0,3-5g/m3, phun trực tiếp xuống ao
+ Định kỳ bón vôi (CaO) liều lượng 2kg vôi/100m3 nước, một tháng bón vôi 2 lần. Vôi hoà ra nước té đều khắp ao
– Dùng chế phẩm sinh học tăng cường vi sinh vật có lợi trong ao
Thứ 4: Tăng sức đề kháng cho cá:
+ Tỏi 0,5 kg tỏi/100kg cá/1 tháng 1 lần trong 5-7 ngày
+ Hoặc cho cá ăn thuốc KN-04-12. Mỗi đợt cho ăn 3 ngày liên tục. Liều lượng: cá giống 4 g/1 kg cá/1 ngày (400 g thuốc/100 kg cá /1ngày), cá thịt 2g/1 kg cá/1 ngày (200 g thuốc/100 kg cá/1 ngày).
+ Cho cá ăn Vitamin C, với liều lượng 30 mg/1kg cá/ngày cho cá ăn liên tục 10 ngày/ 1tháng. Đặc biệt, vào thời điểm mùa xuất hiện bệnh thì cho ăn 1 tháng liên tục
Thứ 5: Phòng bệnh bằng tắm bằng vacxin vô hoạt: Đối với cá giống bố mẹ tiêm vacxin vô hoạt chiết xuất từ bệnh virus ở cá trắm, còn đối với cá giống nên tắm vacxin vô hoạt.
Nguyễn Thị Lệ Quyên theo NNVN

English
VI